• lễ giỗ 6

  • lễ giỗ 5

  • lễ giỗ 4

  • lễ giỗ 3

  • lễ giỗ 2

  • lễ giỗ 1

  • Lễ giỗ 2016_1

  • 49 ngày Đai Tướng

  • giơithieuweb

  • 11

  • 10

  • 9

  • 8

  • 7

  • 6

  • 5

  • 2

  • 1

Văn hóa văn nghệ
Những kỷ niệm với nhà thơ Hải Như
Thanh Tùng


Hôm ấy là chiều thứ 6, ngày 30-6-2017, tôi nhận được tin nhắn từ KTS Hạnh Vũ: Nhà thơ Hải Như (tên thật Vũ Như Hải, sinh ngày 23-8-1923, quê Nam Định, từ trần lúc 7h30 sáng nay, thượng thọ 95 tuổi... Lúc đó tôi đang viết bài tưởng nhớ cụ Phạm Quỳnh, để sáng hôm sau phát biểu tại lễ tượng niệm cụ chủ nhiệm kiêm chủ bút nhân 100 năm tạp chí Nam Phong ra số đầu tiên (01-7-1917). Đều là việc hiếu nghĩa, bên nào cũng trọng, nhưng đành phải khất cụ Hải Như qua ngày hôm sau.

Cũng với tựa đề “Những kỷ niệm với nhà thơ Hải Như”, tôi viết nhanh, chưa tới 1.000 chữ gửi báo Thừa Thiên Huế - tờ báo nơi tôi vào nghề, và có “duyên” với nhà thơ Hải Như.

Tôi gặp ông lần đầu tiên vào mùa hè năm 1989, khi ông ra Huế viết lời bình cho bộ phim tài liệu - nghệ thuật Thương nhớ sông Hương, do Saigon Video thực hiện. Phó tổng biên tập báo Thừa Thiên Huế Đoàn Ngọc Phú (sau này là TBT) bảo tôi tiếp xúc với đoàn làm phim để có bài giới thiệu trên trên trang VHVN. Tôi gặp đạo diễn Nguyễn Thiện Đĩnh. Nguyễn Thiện Đĩnh "đá" sang nhà thơ Hải Như. Lúc đó ông đang ở nhà bác sĩ Nguyễn Tích Ý, dưới Tiên Nộn (đối diện phố cổ Bao Vinh, cạnh làng hoa giấy Thanh Tiên nổi tiếng) để chuẩn bị cho cảnh quay về nét đẹp văn hóa của người Huế trong ngày giỗ tổ tiên. Khi nghe bác sĩ Nguyễn Tích Ý giới thiệu về tôi, ông à... một tiếng. Thì ra ông đã đọc một số bài viết của tôi trên tờ Giác Ngộ. Tôi thì khá bất ngờ vì nhà báo thuộc thế hệ đầu tiên sau cách mạng tháng Tám 1945, một nhà thơ Bắc Hà, viết nhiều nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh, lại vào Nam làm Phó tổng biên tập tờ báo của Giáo hội Phật giáo.

 
Nhà thơ Hải Như và tác giả bài viết

Quen thân nhà thơ Hải Như khá lâu, nhưng cứ mỗi lần gặp gỡ, trò chuyện, giữa ông và tôi lại nẩy ra một cuộc "đối thoại" văn học cởi mở, với nhiều tình tiết bất ngờ, thú vị. Tôi đã "lẩy" từ những câu trả lời bất ngờ ấy để làm đầu đề cho các bài viết của mình.

Thơ tình tại sao chưa hay? là bài trao đổi đầu tiên tôi giữa ông và tôi về một đề tài văn học - ở TPHCM, vào mùa thu năm 1992. Trước lúc chia tay, thấy tôi đang băn khoăn về “đầu ra”, ông bảo: Anh thử gửi cho tờ Nhân dân cuối tuần? Ông Hữu Thọ bây giờ rất thoáng. Quả nhiên, hơn một tháng sau bài được đăng ở ngay trang thơ của NDCT. Bạn hữu, đồng nghiệp của tôi lúc đó có nhiều người thấy bất ngờ, thú vị ở câu kết của bài phỏng vấn. Ấy là ông không chọn Xuân Diệu, mà chọn Nguyễn Bính xứng đáng là nhà thơ tình trong thơ ca đương đại của Việt Nam. Bởi vì “Xuân Diệu làm thơ để “cổ động” tình yêu. Còn Nguyễn Bính thật sự do đau khổ và sung sướng khi yêu mà làm thơ. Bạn đọc đã yêu và đang yêu say đắm tìm thấy mình trong thơ tình Nguyễn Bính.”

Năm 1996, tôi có bài trao đổi với ông xoay quanh mối quan hệ giữa thơ và nhạc. Lúc đầu bài đăng trên tờ Thể thao – văn hóa. Năm sau, tôi chỉnh sửa lại chút ít, với tựa đề Nhạc và lời – thi sĩ và nhạc sĩ gửi cho Nguyễn Trọng Tạo, khi anh  đang làm tờ báo THƠ của Hội Nhà văn VN. Không hiểu sao, tháng 11 năm ấy bài lại đăng trên báo Văn nghệ, số 44, chuyên mục “Tiếng nói nhà văn”. Lần ấy tôi bị ông “sửa lưng” ngay khi đưa ra câu hỏi đầu tiên: Cho đến nay, ông đã được bao nhiêu nhạc sĩ phổ thơ? Ông đề nghị tôi “nên đưa ra câu hỏi giữ giá cho nhà thơ". Ví dụ như: Nhà thơ đã dùng tên chung tác giả với bao nhiêu nhạc sĩ. Vì lâu nay ít ai nghĩ thơ cất cánh cho nhạc, thơ gây men tạo chất xúc tác cho nhạc... Nói đến ca khúc thì lời thơ - ca từ là một nửa. Ca từ đi vào và để lại ấn tượng dài lâu trong lòng người hát, người nghe; nhạc đóng vai trò dẫn dắt. Ở "cuộc chơi" giữa thơ và nhạc bấy lâu nay ca từ chưa được tôn trọng đầy đủ như một đồng tác giả.

Đầu thu năm 2000, có việc vào TP Hồ Chí Minh, tôi đến thăm ông tại nhà riêng. Lúc đó ông ở đường Lê Văn Sĩ. Tôi ngạc nhiên, vì khác với thông lệ, ông đang chuẩn bị lên Đà Lạt với mấy người bạn cao niên, đều là dân Hà Nội vào miền Nam sinh sống. Tôi hỏi: Tại sao anh không trở về Hà Nội khi ngoài ấy đang tưng bừng chuẩn bị kỉ niệm 990 năm đất rồng bay? Ông hóm hỉnh: “Muốn về lắm chứ, nhưng bọn mình đã nghỉ hưu từ lâu, do đó chỉ được phép đi xa khi được... mời”!

Nói vậy mà không phải vậy. Tôi đã đọc bài Thăng Long nghìn tuổi đang xanh lại rồi của ông, đăng trên báo Tiền Phong xuân 2000, được nhạc sĩ Hoàng Đạm chọn làm ca từ cho bản hợp xướng không nhạc đệm. Đầu đông năm ấy, tôi lại có công chuyện vào thành phố Hồ Chí Minh. Dự tính ghé thăm ông thì đầu dây bên kia ông cho biết: Tôi đang ở Hà Nội vì “nhớ rét”... Thế là ông đã “về nguồn”. Không khí của Hà Nội những ngày ấy sẽ gợi cho ông những cảm hứng mới. Trong ông vẫn còn “lửa” sáng tác. Ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng thường xuyên ý thức là công dân thủ đô và sáng tác về đề tài Hà Nội vẫn là cảm hứng thường trực đã lí giải tình yêu Hà Nội của nhà thơ Hải Như. Hơn một lần tôi đã nghe ông tâm sự: “Càng đi xa càng thấy Hà Nội đẹp và yêu Hà Nội hơn".  Xa Hà Nội càng yêu Hà Nội là đầu đề của bài tôi viết về ông trong dịp ấy.

Vào vòng chung kết Vorld Cup 2002 tôi gặp ông từ Sài Gòn ra Đà Nẵng. Thật đáng nể, bước sang tuổi 80 mà ông vẫn đi và vẫn viết đều đều. Tôi đã "gặp" ông vài ngày trước đó với chùm thơ trên báo Bình Định, và trên báo Nhân dân với bài thơ viết về bóng đá, ca ngợi các cầu thủ Sê nê gan, những chàng lính mới lục địa đen đã hạ gục đương kim vô địch Pháp. Thế là tôi  có một bài viết về ông với đầu đề "Hai hiệp phụ của một nhà thơ". Một nhà thơ U80 vẫn sắc sảo, vững chãi để đá nhiều hiệp phụ.

Tiếp theo đó là câu chuyện về một ca khúc mới và quan niệm trong sáng tác: nhà thơ “tự đặt hàng” cho chính mình hay là... nhận đặt hàng?

Tôi thấy khác thường vì hàng năm vợ chồng ông vẫn ra Hà Nội, bằng chuyến bay thẳng Tân Sơn Nhất - Nội Bài, nhưng lần này lại ghé Đà Nẵng trước. Hẳn có lý do gì? Nhà thơ Hải Như vui vẻ bật mí: Ông yêu thành phố cửa sông Hàn từ những năm tháng ở Hà Nội, thời còn đánh Mỹ. Trong bài thơ Thành phố hoa phượng đỏ đã nói lên điều đó: Hỡi em yêu trong đêm dài tiễn biệt, chưa trọn nghĩa Sài Gòn, Đà Nẵng; Ta tạm biệt xa nhau... Đất nước vừa giải phóng, trên đường vào Sài Gòn, khi ghé qua Đà Nẵng ông đã có chùm thơ viết tặng Quảng Đà. Chùm thơ đăng trên báo Nhân dân. Sau đó vào công tác và sinh sống ở Sài Gòn ông ít có dịp ghé Đà Nẵng. Lần này trên đường ra Hà Nội, ông ghé Đà Nẵng với mục đích trực tiếp tặng thành phố ca khúc Thành phố cửa sông Hàn - lời thơ Hải Như, nhạc Văn Lương. Người “bóc tem” ca khúc này là Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, lúc đó là ông Nguyễn Bá Thanh! Tôi là người thứ hai được ông tặng bản sao. Người thứ ba là nhà báo Trương Công Định (lúc đó phụ trách tờ ĐNCT, nay là TBT báo Đà Nẵng).

Hơi tò mò, tôi hỏi thật ông: Bài “Thành phố cửa sông Hàn” có phải là đơn đặt hàng? Không hề bất ngờ, ông bày tỏ quan điểm: Tôi chỉ viết theo đơn “đặt hàng” của chính mình khi làm thơ cũng như khi viết ca từ cho nhạc sĩ. Tôi quan niệm nhà thơ phải “tự phân công” khi viết theo yêu cầu tự thân, khi thấy lòng mình rung động. Tôi không phản đối việc các cơ quan văn hoá “đặt hàng” văn nghệ  sĩ. Nhưng với tôi, tôi “tự đặt hàng”. Bởi tôi không muốn sáng tác cho có, mà đòi hỏi sáng tác phải có rung động thật sự của mình. Trường hợp bài hát Thành phố cửa sông Hàn cũng giống bài hát Thành phố Hoa phượng đỏ và một số bài hát khác.

Tôi truy đến cùng: Tự đặt hàng cho mình ông gặp thuận lợi và khó khăn như thế nào? Ông bảo: Kể ra, làm theo cách của ông có phần “mạo hiểm”. Về nguyên tắc, nếu địa phương máy móc không nhìn nhận tác phẩm của mình, do không nằm trong danh sách các nhà thơ, nhạc sĩ được mời “đặt hàng”, thì sẽ không có chế độ. Thật may mắn, ông có hạnh phúc được lãnh đạo các địa phương tôn trọng quan điểm sáng tác không theo qui chế “đặt hàng”. Trường hợp ca khúc Thành phố Hoa phượng đỏ là một ví dụ. Cả tác giả thơ và tác giả nhạc đều thuộc loại “khách không mời” của sở Văn hoá Hải Phòng nhưng bài hát được công chúng và  lãnh đạo thành phố trân trọng, đánh giá đúng tác phẩm.

Lần cuối cùng tôi gặp vợ chồng nhà thơ Hải Như vào tháng 12-2012, khi ra Hà Nội dự Hội thảo 1.000 năm họ Thân, nằm trong chuỗi hoạt động văn hóa “Ngàn năm Thăng Long – Hà Nội”. Lần ấy, tình cờ vợ chồng ông và tôi ở cùng nhà khách Thanh Niên. Ngay trong ngày đầu tiên gặp nhau tôi lại có bài Chinh phục độc giả không chỉ một thời, đăng trên báo Tiền Phong.

Đó là quan niệm của riêng ông về những giá trị đích thực của Văn học - Nghệ thuật trong bối cảnh các giải thưởng đang gây nhiều tranh cãi. Ông cho rằng, để không có sự "ồn ào" thì phải có những lá phiếu bình chọn của khán - thính giả, độc giả. Và tiêu chí quan trọng nhất là "sức bền" của tác phẩm. Bài hát Thành phố Hoa phượng đỏ là một ví dụ, một bài ca đi cùng năm tháng. Ca từ bài này Hải Như viết năm 1970. Là "cuộc tình" thứ mười của ông, với  Lương Vĩnh, một nhạc sĩ ở "tỉnh lẻ". Đứa con tinh thần của họ đã gặp khá nhiều rắc rối khi làm “giấy khai sinh”. Khi phổ nhạc Lương Vĩnh đã bỏ mất sáu chữ "cho anh trao chiếc hôn nồng”. Nguyên câu ấy là: Hỡi em yêu trong đêm dài tiễn biệt, cho anh trao chiếc hôn nồng, ta tạm biệt xa nhau... Đã “hy sinh” chữ hôn rồi nhưng nhạc phẩm vẫn cứ bị đình bản. Hơn một năm trời, qua mấy lần duyệt nhưng lãnh đạo thành phố Hải Phòng vẫn không cho hát. Khi thì bị coi là mất lập trường vì đã đánh giá “Hải Phòng ơi hôm nay bé nhỏ”. Lúc thì cho là “không nghiêm túc” bởi “Những hẹn hò bên bờ sông Lấp”. Vì một thời sông Lấp là "phố vẫy" của các cô gái lấy đêm làm ngày. v.v...

Khi Đài Tiếng nói Việt Nam duyệt và Kiều Hưng hát Thành phố hoa phượng đỏ thì bài hát không còn là của riêng Hải Phòng. Thành phố Hoa phượng đỏ đã đi vào lòng người gần trọn nửa thế kỷ. Những khi nhớ lại cửa ải kiểm duyệt bài hát Thành phố Hoa phượng đỏ nhà thơ Hải Như lại bày tỏ quan điểm: Thời gian mãi mãi là thước đo sức bền của tác phẩm. Người duyệt bài hát của chúng ta là quần chúng số đông.

Khi chưa nghỉ hưu, năm nào tôi cũng gặp ông ở Huế, hoặc ở Đà Nẵng, trên hành trình từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội, hoặc ngược lại. Ông thường gọi đó là những chuyến “về nguồn”. Trên hành trình ông thường “lang thang” đó đây để tìm gặp bạn tri âm, tri kỷ, tìm cảm hứng cho những sáng tác mới. Nửa đầu thập niên 1990, tôi cầm trang văn hoá văn nghệ của báo Thừa Thiên Huế. Mỗi lần ghé qua ông đều có thơ gửi "đọc cho vui". Mỗi lần ông chỉ gửi một bài nhưng bài nào cũng hay và thích hợp với tờ báo của cố đô Huế. Những bài này về sau ông đưa vào trong cuốn Có hai dòng văn chương (NXB Trẻ - 2009). Trong số đó, cho đến nay tôi vẫn nhớ và yêu thích nhất là các bài: Tặng đôi mắt Huế, Những tà áo trắng, Tượng các nhà thơ, Tiếng dạ quê hương, Gửi lại chợ Đông Ba.

Gần đây nhất, giữa năm 2015, trên báo Thừa Thiên Huế, tôi có hai bài viết ngắn, ở hai số ra gần nhau, bài "Giải thưởng lớn nhất của người nghệ sĩ", và bài "Thước đo sức bền tác phẩm". Đó là những cảm hứng sau khi xem chương trình "Giai điệu tự hào" trên VTV1. Một ông bạn già ở Huế tình cờ đọc bài viết này đã gọi vào TPHCM thông báo và chia xẻ niềm vui với nhà thơ Hải Như. Lúc đó ông đang bị bệnh. Ông "triệu tập" con cháu về sớm để vào Googlo tìm kiếm, in bài cho ông đọc. Ông gọi điện thoại cho tôi. Giọng vỡ òa cảm xúc: Rất cám ơn anh về bài viết. Tôi rất mừng là anh đã nghỉ hưu nhưng không nghỉ viết. Và vẫn tràn đầy cảm xúc. Làm văn nghệ, làm báo là không có nghỉ hưu. Anh nói rất trúng điểm huyệt. Tôi không ngờ Huế vẫn là một cái nôi phản biện xã hội. Hà Nội, TPHCM tôi không thấy loại bài như thế này, họ vô cảm mất rồi chăng? Anh gửi cho tôi tờ báo in làm kỷ niệm nhé. Cho tôi gửi lời cám ơn và thăm hỏi anh chị em trong tòa soạn báo Thừa Thiên Huế. v.v...

Hai ngày liền sau đó ông liên tục gọi cho tôi, mỗi ngày gần chục cuộc. Khi thì nhận xét về ý này, câu nọ. Khi thì kể thêm một chi tiết thú vị. Ví như hồi đó có ý kiến rằng Hải Phòng thiếu gì nhà thơ mà phải hợp tác với nhà thơ Hà Nội? Nhạc sĩ Lương Vĩnh phải lên Hà Nội mấy lần đề nghị nhà thơ cho sửa lời ở vài chữ như góp ý của lãnh đạo địa phương nhưng tác giả ca từ không đồng ý. Năm 1981, Chủ tịch Hải Phòng điện thoại vào TPHCM mời nhà thơ Hải Như ra dự lễ hạ thủy tàu Hoa phượng đỏ vẫn còn nói "móc" một câu: Để nhà thơ chứng kiến những đổi thay của Hải Phòng; để nhà thơ thấy Hải Phòng hôm nay không còn "bé nhỏ" nữa. Hồi đó, bốc lên có người còn gọi Thành phố hoa phượng đỏ là "quốc ca", vì cả nước hát. Nhưng khi ca sĩ Hải Phòng hát bài này thì phải sửa hai từ. Ở câu "Hải Phòng ơi, hôm nay bé nhỏ..." phải hát là Hải Phòng ơi, hôm qua bé nhỏ, nay ta đã thấy rộng dài...

Thật lòng, đã lâu lắm rồi tôi mới được gặp lại một “độc giả” vừa ứng xử rất văn hóa (gọi điện thoại cám ơn, trao đổi chân tình) vừa tràn đầy cảm xúc trước một bài báo rất bình thường - loại bài không phải đi thực tế, mà chỉ vừa xem ti vi vừa viết. Với tư cách là tác giả bài viết, tôi chân thành cám ơn nhà thơ Hải Như, xem đó là một sự động viên cỗ vũ lớn nhất.

Chợt nghĩ, thật là buồn nếu như báo in ra ít người đọc, ít người hồi âm. Có người bực mình còn cho là bạn đọc bây giờ nhiều người vô cảm lắm; chỉ lướt mạng, ít ai đọc báo in. Nói độc giả phần nhiều vô cảm cũng không sai. Nhưng, tiên trách kỷ… Trước hết người viết phải tự trách mình.

Huế, tháng 7/2017
Saigon, tháng 10/2017 - nhân 100 ngày nhà thơ Hải Như đi xa. 

TH.T

VIDEO