• lễ giỗ 6

  • lễ giỗ 5

  • lễ giỗ 4

  • lễ giỗ 3

  • lễ giỗ 2

  • lễ giỗ 1

  • Lễ giỗ 2016_1

  • 49 ngày Đai Tướng

  • giơithieuweb

  • 11

  • 10

  • 9

  • 8

  • 7

  • 6

  • 5

  • 2

  • 1

Ninh Giang Thu Cúc
Ninh Giang Thu Cúc - Một hồn thơ xa xứ
Ninh Giang Thu Cúc tên thật là Phạm Thị Thu Cúc, nguyên quán ở làng An Ninh Hạ, phường Hương Long, thành phố Huế. Vợ chồng chị đã chọn Bình Định làm quê hương thứ hai, nhưng rồi "đành thêm bước nữa tiến về Nam". Đồng cảm với người Huế xa, một người bạn thơ là Lê Ngọc Tâm chia xẻ với Ninh Giang Thu Cúc: Quê hương ngày ấy rời xa / Quy Nhơn người đến thiết tha nghĩa tình/ Đời người những tưởng yên bình?/ Nào hay phiêu dạt, biệt tình về Nam...

Ngày vợ chồng chị rời Quy Nhơn CLB thơ Xuân Diệu tổ chức đêm thơ Ninh Giang Thu Cúc, HPMT xin giới thiệu bài tường thuật của Trần Hoa Khá thay cho lời giới thiệu về tác giả - tác phẩm, một hồn thơ xa xứ, một hồn Huế phiêu dạt trời nam.

Đã 46 năm qua, từ khi cùng chồng là anh Văn Noa ra đi từ mảnh đất “Thần kinh”, nữ sĩ Ninh Giang Thu Cúc cùng gia đình chọn Quy Nhơn – Bình Định là quê hương thứ 2 của mình. Ở đây anh Văn Noa và người con trai trưởng cùng công tác tại Bệnh viện Đa Khoa tỉnh. Những người con khác của chị cũng theo học tại các trường ở Quy Nhơn và rồi lần lượt vào học các trường Đại học tại TP. Hồ Chí Minh, ra trường công tác và sinh sống tại thành phố sôi động này. Nay anh Văn Noa đã về hưu, người con trai là bác sỹ Nhân cũng chuyển công tác vào TP. Hồ Chí Minh. Rồi đến lượt anh chị cũng phải vì con mà một lần nữa phải từ giã quê hương thứ 2 đầy kỷ niệm của đời người.

Có thể nói, tình người và tình đất của Quy Nhơn mang phong vị mặn mà của biển và chan chứa trong ánh trăng huyễn hoặc của đêm huyền diệu nơi này đã tạo cảm hứng sáng tác cho chị. Chị đã xuất bản 15 tập sách gồm nhiều thể loại: thơ, tiểu luận, biên khảo, truyện ngắn… Và chị đã gửi xin giấy phép cho 5 tập khác sẽ được in trong thời gian đến, trong đó có tập thơ Đường luật (nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 70 của chị) gồm hơn 100 bài thơ của chị và của bạn bè họa vần.

Từ những năm 1995 trước đây, tôi cùng một số bạn hữu đã là khách văn thường xuyên với gia đình anh chị, như anh Phạm Xuân Tuyển, Nguyễn Thanh Xuân, Du Thoại Miên, Nguyên Hiền, Triều La Vỹ, Kỳ Minh Triết, Sơn Trần..., các chị Kim Long, Hải Đường cùng các em sinh viên Đại học Quy Nhơn như Lưu Thị Mười, Nguyễn Thị Ái Kiều, Thanh Hương, Thúy Vân... và những thành viên khác của Bút mhóm Biển xanh Quy Nhơn. Nhà chị, với sự ấm áp và thân tình của gia chủ, nên chúng tôi thường xuyên tụ tập, sinh hoạt văn nghệ với nhau, được ví là “Trụ sở” của Bút nhóm. Những vui buồn ắp đầy kỷ niệm làm sao kể xiết, chỉ nói nôm na rằng: Anh chị Văn Noa – Thu Cúc là những người mà chúng tôi không thể nào quên, cùng những tháng năm nhiều kỷ niệm đẹp của chúng tôi một thời! Chúng tôi xin chân thành cảm ơn anh chị về những tình cảm đã dành cho chúng tôi! 

Và thật xúc động trong đêm thơ Ninh Giang Thu Cúc do CLB Xuân Diệu tổ chức diễn ra với những tình cảm trong niềm lưu luyến. Đây cũng là buổi sinh hoạt chia tay và tiễn anh chị lên đường vào TP. Hồ Chí Minh. Chút tình còn mãi với nơi này - quê hương thứ 2 của anh chị…

Dưới đây là một số bài thơ của anh Văn Noa và chị Ninh Giang Thu Cúc, do Trần Hoa Khá tuyển chọn, giới thiệu:

 

2 bài thơ của anh Văn Noa

 

TIẾNG LÒNG

 

Đành thêm bước nữa tiến về Nam

Xa ngái anh em giã xóm làng

Ngước mặt trông mây trời dưỡng dục

Cúi đầu ngắm dáng chốn cưu mang

Duyên lành may gặp đường thanh thản

Đất lạ mong tìm chốn vĩnh an

Thân hữu mến trao lời chúc phúc

Người đi xin nhận chữ nhàn khang.

 .

 

HẸN

Tình thơ nghĩa bạn đã bao ngày

Bứt áo lìa đàn thật khó thay

Kẻ ở bâng khuâng hồi tiễn bước

Người đi lựng khựng buổi chia tay

Cuộc chơi nghe thắm buồn man mác

Chén rượu vội nồng chán ngất ngây

Trời đất vần xoay còn gặp lại

Hẹn ngày tái ngộ trận cười say.

 

 

Chùm thơ của chị Ninh Giang Thu Cúc

 

Lại vong thân

 

Lại lần nữa – cuộc vong thân

Lại lần nữa – vọng mây Tần nhớ thương

Dưới trời đâu chốn quê hương

Dưới trời sao mãi tha phương dặm dài

Quê nhà nặng nợ hình hài

Bút nghiên nặng nợ chương đài đa mang

Chiều Quy Nhơn nhớ miên man

Khóc cười tiễn biệt ngỡ ngàng dặm xa

Nhìn nhau qua chén quan hà

Nhớ nhau qua chút hương trà xanh thơm

Bước chia ly mãi bồn chồn

Hẹn nhau sâu thẳm ấm hồn chiêm bao.

 

 

 .

Tạm biệt Quy Nhơn 

 

Tạm biệt nhé gánh gồng sang xứ lạ

Quy Nhơn ơi thương biết mấy cho vừa

Chở che ta từng sáng nắng chiều mưa

Ân tình nặng lòng xin ghi khắc

Biển lồng lộng xanh ngời vờn sóng mắt

Nồng nàn bao mùi vị tỏa trùng dương

Buồm nâu căng bạt gió nắng muôn phương

Thuyền về bến đầy khoang giàu biển bạc

Thành phố ấy xin một đời ghi tạc

Vạn vui buồn độ lượng biển dang tay

Sóng ấp yêu ngời ngợi sóng trào vây

Hòa cung bậc thăng trầm da diết

Dừa xõa tóc lắng nghe lời chia biệt

Nước rờn xanh soi bóng vọng phu buồn

Ngày ta đi mây nước gió len vương

Làn tóc rối chút hương miền biển mặn.

 

Tạ...! 

 

Kính tặng bạn bè và bà con xóm giềng phường Trần Phú, Tp.Quy Nhơn - Bình Định

 

 

Người đàn bà chiều muộn

Xin nghiêng mình từ tạ

Ngôi nhà:

-  283/6 đường Nguyễn Huệ Quy Nhơn

Ngôi nhà ăm ắp nguồn cơn

Ngôi nhà chứng kiến

Nỗi niềm buồn vui

Chấp tay:

-  Một lạy ngậm ngùi

Tạ ơn Nhà đã ngọt bùi bao năm

                      ***

Chẳng đừng:

-   Đành phải quay lưng…

Giã từ Trời Biển đã từng cưu mang

Giã từ bằng hữu đá vàng

Bước đi mỗi bước

Hàng hàng giọt vương

Quy nhơn ơi! – Một đời thương

Trần Phú ơi! – Những con đường mến yêu

                          ***

Xóm mình ơi! – Mỗi sớm chiều

Tối đèn tắt lửa bao điều sẻ chia

Hôm nay giây phút chia lìa

Nén lòng:

-  Sao vẫn đầm đìa giọt rơi

Người đi… kẻ ở… xa xôi

Biết khi nào:

-  Mới bồi hồi gặp nhau

Vô thường trong cõi bể dâu

Hợp tan:

-  Quy luật cơ cầu … biết sao

Chân đi lòng mãi nghẹn ngào

Gởi phường Trần Phú lời chào nhớ thương

Dẫu đi đến tận mười phương

Quy Nhơn Bình Định

Vấn vương trọn đời.

 

Quy Nhơn sơ Hạ Tân Mão 2011

 

 .

      

        THƯ GỬI NGƯỜI PHƯƠNG XA

 

       Tháng năm biền biệt âm hao từ độ Đông, Đoài chia cách để rưng rưng hoài niệm cho ai tìm ai trong thăm thẳm chiêm bao.

       Quê hương buồn vô hạn từ khi người khăn gói gió đưa qua trùng dương muôn ngàn hải lý – khúc ly biệt năm cung run rẩy, lá cành vườn Ngọc Lan xót xa chiều đưa tiễn bước người…

       Sông quê ngăn trở đôi bờ để lỡ làng trầu cau duyên phận, cho kẻ đi người ở ngậm ngùi đỏ mắt ngoái trông nhau.

       Điếm cỏ – cầu sương – miền cư trú nửa đời cho kẻ mất gia cư vò võ ăn mày qúa khứ trên “thiên đường” đẫm lạnh xứ người, cho dù nghìn tứ muôn chung, khanh tướng cân đai dập dìu ngựa xe võng lọng.

       Có còn không, chút lãng mạn xa xưa với cánh thư xanh một thời khói sương lãng đãng: “Quê mình sao nhỉ – buồn lắm phải không? Mùa thu lá vàng cả dòng sông lặng lờ mỗi chiều qua ngõ thảo nào không gợi cho lòng người thiếu nữ thích đi trong mưa, ưa đếm những vì sao trên nền trời trăng mờ không sáng những nỗi buồn xa vắng”.

       Sân ga vẫn lặng lẽ kiên gan cùng tuế nguyệt để chứng kiến bao nỗi oan khiên nhưng con tàu xưa mãi xuôi ngược nơi nao trên vạn nẻo sông hồ.

       “Chim xa bầy còn thương cây nhớ cội, người xa người tội lắm người ơi, thà rằng không gặp thì thôi – gặp rồi mỗi đứa một nơi răng đành”

        Làm răng đành lòng quay mặt sấp lưng khi lời xưa còn âm vọng dưới trời quê, khi ai đọc cho ai nghe bên triền đồi Hà Khê một chiều tắt nắng. “Khi tình yêu còn ở màu xanh, anh viết thư cho em bằng chiếc bì công sở, có thể là không cần gởi nữa, nhưng bởi vì còn thương nhớ; khổ em ơi, anh đọc thoại quá nhiều, khi tình yêu còn ở màu xanh, anh viết thư nhiều nhưng không dám gởi, vì tuổi đời niên thiếu ai hiểu cho nhau, dù trong thư anh đặt cả chuyện nguyện cầu…”

       Chuyện nguyện cầu không thành sự thật để “Tóc mai sợi ngắn sợi dài, lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”.

       Thương hoài ngàn năm nên tháng ngày xanh xao vọng tưởng như ngày xưa một lần người đã viết trong thư: “Nhiều chiếc thư ra đi mang theo nỗi hoài vọng để rồi sau đó là những tháng ngày vô vọng, anh không tin rằng có sự thất lạc ở trong đó…”

       Đúng như rứa – thư có hề thất lạc cái nào đâu! Mà chỉ có kẻ chủ tâm trong âm mưu chia rẽ… để sự hiểu lầm biến thành lòng kiêu hãnh chẳng ai chịu phân phô nên đôi lứa gãy gánh… chia lìa…

       Bốn mươi lăm năm đã trôi qua – thời gian đủ để chúng ta sờn vai bởi gánh đời quá nặng, đủ để chúng ta bạc tóc bởi quy luật của thời gian và đủ lắm rồi những buồn vui phiền muộn, những được mất nhục vinh, những sĩ diện loanh quanh gồng mình phô trương giả tạo – cái ảo ảnh và ảo giác hạnh phúc… phỉnh phờ nhau – bao cụm từ hoa mỹ khi phải oằn lưng “gánh vác giang sơn” bằng tâm cảm của kiếp tội đồ trên đất trích cô liêu.

        Mọi hợp tan âu là do số phận – mọi thứ cứ đổ thừa cho số phận là xong bởi cái mang tên số phận có miệng mồm đâu để bảo vệ mình cơ chứ.

 

        Từ miền đất Mẹ có dòng sông nắng đục mưa trong, kẻ viết bài này xin được thay lời người trong cuộc với tư cách bạn bầu thuở đèn sách hoa niên để gởi đến người góc bể chân trời chút nỗi niềm từ lâu nguyện đào sâu chôn chặt… lỡ mai kia ai còn ai mất theo quy luật tử sinh khỏi phải ngậm nỗi đau một đời vì sai cung lỗi điệu… hẹn luân hồi ân nghĩa đáp đền. Xin được chào nhau qua nửa vòng trái đất với lời chúc bình an trên miền cư ngụ. Cố Đô Huế vẫn mãi nhớ người đi và tình cảm của người dân xứ sở vẫn sâu nặng, thủy chung, bền chặt như cửu đỉnh đứng ngàn năm trong Tử Cấm Thành rêu phong lớp lớp.

VIDEO