• lễ giỗ 6

  • lễ giỗ 5

  • lễ giỗ 4

  • lễ giỗ 3

  • lễ giỗ 2

  • lễ giỗ 1

  • Lễ giỗ 2016_1

  • 49 ngày Đai Tướng

  • giơithieuweb

  • 11

  • 10

  • 9

  • 8

  • 7

  • 6

  • 5

  • 2

  • 1

Phạm Thông
Tết Mậu Thân - Tôi không được đi phía trước
Truyện ngắn của Phạm Thông

Vài ngay nữa đến tết Mậu Thân, từ cơ quan Tiền phương, ông Hà - thủ trưởng phân công tôi về lại chỗ cơ quan cũ. Ông dặn: 

- Cháu xác định với anh em bộ phận sản xuất là phải tìm đất cho mùa rẫy mới. Cứ yên tâm mà trụ trên đó, kháng chiến còn lâu dài, đừng nôn nóng... 

Tôi lên đường với những thắc mắc: Sao Thủ trưởng lại nói vậy giữa lúc đang khí thế chuẩn bị Tổng tấn công. Khu ủy, Ban Tuyên huấn và cả cái nhà in của chúng tôi cũng từ Trà My đã dời ra vùng rừng núi Quảng Đà để gần thành phố Đà Nẵng. Lời ông ta dặn thật lạ. Nhưng là người lính, tôi chấp hành mệnh lệnh. Chuyện to tát của cuộc kháng chiến, lính như tôi làm sao biết được. Tôi đi. 

Một mình cuốc bộ, từ khu rừng ở đông Giằng-tây Đại Lộc đến nước Oa, Trà My mất ba ngày. Đến chân dốc Đá Bàn, từ đầu nguồn nước Oa băng qua con dốc là đến nóc ông Dôn, trên bờ nước Vin. Nói nghe dễ ợt nhưng xa lắm. Tại đây, tôi gặp mấy anh bộ đội nói tiếng Bắc, hỏi: 

-       Tại sao đồng chí lại đi ngược lên? Mình đã đánh chiếm Huế, Tam Kỳ rồi. Tôi ngớ người hỏi:

-       Thật không! 

Người đi lên kẻ đi xuống gấp gáp, chẳng hỏi được gì hơn. Đã bốn giờ chiều, trong niềm vui tràn đầy, cố vượt dốc về cơ quan cũ. Ở đó có đài, nghe tin chiến thắng cho sướng cái lỗ tai. Tôi đi thật nhanh. Lên tới đỉnh dốc, trời sắp sập tối. Đã ở rừng trên 3 năm, nhưng một mình trên đỉnh núi cao âm u, lạnh bút, tôi vẫn thấy cô đơn đến rợn người. Có gạo, có lương khô, nhưng mùa đông củi rừng ướt nhẹp, không nấu cơm được. Có lon sửa mua được ở chợ Phú Thuận - Lộc Thành hôm trước, tôi lấy dao găm dục uống sữa sống, vội vàng treo võng ngủ để bớt sợ. 

Lựa thế, tôi chọn hai cây nhỏ như bắp chân, mọc thẳng, có khoảng cách độ ba mét, rút dao găm dọn sạch dây leo, cây nhỏ trên một khoảnh đất vài ba mét vuông, leo lên cây căng tăng, buộc võng cao quá đầu người, ngủ sớm. Nằm. Lắng nghe. Sợ lạnh người. Nếu có cọp thì chắc chết, đêm tối biết chạy đi đâu. Tôi cố trấn tỉnh: “Cọp Trà My không như cọp Ba Tơ, rất ít bắt người”. Mấy năm trước tôi ở trong Ba Tơ, cọp nhiều lắm. Nhiều lần cọp đi trước mình đi sau, dấu chân còn ướt rượt trên các tảng đá ven suối. Tối nằm thường nghe cọp “bép” sát cơ quan. Ổng hay vào rình bắt heo, nhưng tôi không sợ, vì có đông người.  

Ở cái tuổi 17, đi đường mệt rã người, buồn ngủ quá. Mặc kệ, trên cái đỉnh dốc cao, giữa đêm mồng một Mậu Thân, tôi đánh một giấc từ tối đến sáng. Trong giấc ngủ say thì có biết chi là cô đơn. Sáng ra, nhảy xuống đất, bu lên cây tháo võng, tháo tăng, tôi lại lên đường. Về tới cơ quan cũ đóng gần nóc ông Xa, nóc ông Ngơn - xã Giáp đã 2 giờ chiều, mồng 2 tết. Gặp anh An, chị Hải người Sơn Tịnh, chị Hậu người Bình Dương, Thặng Bình và một vài người khác nữa... Các anh chị nghe đài, biết hết tin tức, còn tôi đi giữa rừng như người bị điếc, mù tịt. May đâu, chiều hôm qua gặp mấy anh bộ đội nên cũng lọt vào lỗ tai vài tin nóng hổi. Ngẫm nghĩ, phỉnh mấy người này chơi. Tôi dựng đứng câu chuyện: 

- Các anh chị nghe tôi phổ biến tình hình: “Thủ trưởng báo các anh chị chuẩn bị sắp xếp ba lô tư trang gọn nhẹ về đồng bằng. Ở dưới đó ta đã chiếm được một số đô thị quan trọng rồi. Ngày toàn thắng sắp đến nơi...” 

Cả bốn năm người nhảy cẩn lên mừng vui: “Đài hôm qua đến nay cũng tưng bừng báo tin như thế! Như thế!...” 

Anh An phụ trách sản xuất bảo chị Hải ra cho heo ăn, lựa những con to nhất ra hiệu cho anh em xúm bắt, không được thì bắn, mổ thịt mang về cơ quan ở ngoài Quảng Đà. Tôi nghe hơi chợn người, vội can ngăn: “Chú Hà dặn, không được phá của trước khi xuống núi, có chi thì cho đồng bào dân tộc các nóc xung quanh. Ai làm không đúng sẽ bị kỷ luật”. Nhưng anh An cũng lựa một con heo to nhất, khoản “một thước mấy nắm” giết thịt.  

Tối hôm đó, mọi người cấp tốc giã nếp. Lá dong đã chuẩn bị sẵn từ chiều, ống cây dang cũng đã có sẵn. Người chẻ lạt, người vút nếp, người chùi lá gói bánh chưng, mở đài cả đêm nghe, thức nấu. Củi rừng sẵn, đun thiệt già lửa. Cơ quan có nhiều người từ miền Bắc vào nên ở đồng bằng lên như bọn tôi cũng biết gói bánh chưng. Nhưng bánh chưng đâu như bánh tét, chụm quá lửa thịt heo làm nhưn chảy mở thấm ra ngoài lá, thịt nạc cũng “thau” hết. Sáng ra tắt thử bánh, chẳng thấy thịt đâu cả, lát bánh béo ngậy. 

Họ hoàn toàn không nghi ngờ gì lời của tôi cả. Vì quá có lý. Đêm đó tôi nghĩ buồn cười và lo lo, không biết sáng mai nói trở lại như thế nào đây. Nhưng đã lỡ trớn chơi nghẽn rồi thì rán để cho họ mừng thiệt lâu. Và biết đâu sáng mai có tin hỏa tốc đến như thế thì hóa ra mình là người “đi trước một bước”. Thật “đáng nễ” đấy chứ. Nhưng rồi cũng phải “bật mí” thôi. Vừa cười, vừa sợ mọi người nộ, gấp gáp tôi phân trần. Nghiêm túc nói lại nguyên lời chú Hà dặn. Nói xong tôi nhẹ như nhổ cây gai ra khỏi người. Anh An tức nghẹn, mấy chị thì rưng rưng giọng Quảng Ngãi: Thông ơi mày phỉnh gì mà ác thế, làm bọn tao náo nức cả đêm. Hằn chi, cái mặt thằng quỉ nầy cứ tỉnh bơ mà tụi tao không biết. Khiêng ổng ra suối dìm nước lạnh cho biết tay. 

Anh An thì bình tỉnh, dí dõm:  Thôi hắn cho tụi mình ăn bánh vẽ cũng được đi. Kháng chiến mà ai không mong ngày chiến thắng. Cái phút giây mừng đứng tim đã qua. Bây giờ mình ăn bánh chưng thiệt đi. Mà cái thằng khỉ nầy mầy có muốn ăn thịt heo thì nói quách đi. Ở đây, tụi tau cũng thèm lắm mà không có lý do mổ thịt. Dù sao tụi tao cũng cho mầy là phải. Mầy phỉnh, nhưng tụi tao lại được ăn tết rôm rả hơn một tí. Tất cả nghe tôi dặn, đừng để lộ cái tin thằng Thông phỉnh tụi mình. Ông Hà mà biết, trị nó thì tội nghiệp. Thằng Thông có thấy tụi tao khoan dung không. Vì mầy đã đi bốn ngày đường đến đây để truyền đạt ý của thủ trưởng, thế là cũng có công. Coi như không có chuyện gì xảy ra nhé. Cho bánh, thịt muối, nếp vào gùi để nó mang về ngoài đó. Thiệt nhiều cho ổng phải mang nặng năm sáu ngày đường. Đó cũng là hình thức phạt mầy đó Thông nghe.    

Tôi mừng, mang gùi, leo dốc lội suối về lại Quảng Đà. Những ngày sau tết Mậu Thân, đi đường thấy bộ đội thưa thớt hơn trước nhiều. Nhưng tôi hoàn toàn không biết anh em mình hy sinh dưới Tam Kỳ, Đà Nẵng... trong đêm Tổng tiến công nhiều lắm. Chiến tranh có rất nhiều điều phải bí mật. Những người lính như tôi không nên biết về tin ta thiệt hại, ảnh hưởng tinh thần. Chúng tôi chỉ cảm nhận được rằng, từ Mậu Thân đến cuối năm 1971, tình hình chiến sự ở Quảng Nam rất ác liệt, khó khăn. Và chúng tôi cũng biết chắc rằng chính quyền Sài Gòn phải sụp đổ sau khi Mỹ đã hoàn toàn rút quân chiến đấu khỏi miền Nam, như lời thơ chục xuân 1968, Bác Hồ đã nói: Đánh cho Mỹ cút/ Đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên chiến sĩ đồng bào/ Bắc Nam sum họp xuan nào vui hơn. 

Bây giờ chúng tôi thường tổ chức gặp mặt những người đồng đội cũ có một thời công tác tại Ban Tuyên huần Khu 5. Gặp lại anh An, chị Hải, chị Hậu, các anh chị thường đập vai tôi: “Cái thằng cha này nghịch ác từ hồi còn nhỏ. Hằng chi bây giờ còn “lắm chuyện”... chiến tranh...”. 

P.T

VIDEO