• lễ giỗ 6

  • lễ giỗ 5

  • lễ giỗ 4

  • lễ giỗ 3

  • lễ giỗ 2

  • lễ giỗ 1

  • Lễ giỗ 2016_1

  • 49 ngày Đai Tướng

  • giơithieuweb

  • 11

  • 10

  • 9

  • 8

  • 7

  • 6

  • 5

  • 2

  • 1

Tìm về cội nguồn
Kỷ vật của ông nội
 (Tiếp theo)

 

Ba mẹ tôi ra miền Bắc sau ngày toàn quốc kháng chiến (2-1947). Sau năm 1975 cả gia đình lần lượt hồi hương. 5 chị em tôi đều sinh ra và lớn lên ở Đức Thọ, Hà Tĩnh. Khi tôi chào đời, ở Huế được tin vui ông nội lên chùa Báo Quốc xin làm lễ qui y cho ba tôi và tôi. Về làng ông mua 3 mẫu ruộng tốt cúng chùa.

Ba mẹ tôi nói tiếng Huế. Chị em tôi nói giọng Hà Tĩnh như người Hà Tĩnh. Năm 1960, khi chuẩn bị vào lớp 1, lần đầu tiên tôi ra Hà Nội, ở trong nhà bác Uyên. Nghe chị em tôi chuyện trò vô tư, hồn nhiên, bác Uyên lắc đầu cười nói với ba tôi: "Chúng nó nói giọng Hà Tĩnh hay hơn người Hà Tĩnh". Lúc đó tôi chẳng hiểu gì hết. Lớn lên, vào đại học, đọc văn hoá kim cổ, đông tây tôi mới biết bác tôi đã mượn lời của người Pháp nhận xét, đánh giá ông Trương Vĩnh Ký là “tây hơn tây” để nhận xét về “chất giọng” của chúng tôi. Khi đã thành đạt, bạn bè ở Nghệ Tĩnh thường gọi tôi là người Nghệ gốc Huế mỗi khi gặp gỡ, hội hè phải giới thiệu "quốc tịch".

Ai cũng có một dòng sông để thương để nhớ. Dòng sông quê hương của tôi là dòng Kim Trà, dòng Đan Điền, dòng sông Thơm, sau này gọi là sông Hương, bởi mang theo hương thơm loài cây Thạch xương bồ mọc trong các kẽ đá của khe suối đầu nguồn hai nhánh Tả Trạch, Hữu Trạch. Sông Hương uốn lượn quanh co giữa đại ngàn Trường Sơn, mềm mại, óng ả như dãi lụa chảy qua kinh thành Huế rồi đổ vào phá Tam Giang trước khi về với biển cả. Sông Hương đẹp nhất và có hàm lượng văn hoá lớn nhất. Hương Giang nhất phiến nguyệt /Kim cổ hứa đa sầu là góc nhìn của thi hào dân tộc Nguyễn Du. Với ý chí vẫy vùng của Chu Thần Cao Bá Quát thì Hương Giang là Trường giang như kiếm vạch thanh thiên.  Sóng vỗ tràng giang buồn điệp điệp của Huy Cận, Nguyệt cầm, Lời kỹ nữ của Xuân Diệu,  Đêm đàn lạnh trên sông Huế của Văn Cao đều là những cảm hứng từ trăng nước Hương Giang. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945 sông Hương đã trở thành một Bến Tầm Dương trong văn học nghệ thuật - đã nổi danh với Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị trong Đường thi. Thập niên 1980 nhà thơ xứ Quảng Thu Bồn phát hiện ra sông Hương là Con sông dùng dằng con sông không chảy / Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.

Thế nhưng, với tôi tuổi thơ lại là sông La, Ngàn Sâu, Ngàn Phố, Ngàn Trươi.

Tam Soa - nơi hợp lưu của Ngàn Sâu và ngàn Phố để tạo thành sông La   

Chị tôi sinh ở Châu Phong, bên bờ đê La Giang, quê hương của cụ Phan Đình Phùng. Tôi và các em sinh ra, lớn lên ở xã Đức Bồng, xóm Đình. Nhà tôi ở cạnh đình làng và cạnh đồn Bộng, bên bờ Ngàn Sâu xanh thẳm. Đồn Bộng nằm trên một ngọn đồi cao ở bên bờ sông. Đây là một trong những đồn binh của quân Pháp lập để kiểm soát và khống chế hoạt động của nghĩa quân Cần Vương do cụ Phan Đình Phùng lãnh đạo. Trường cấp 1 tôi học ở cạnh đình làng. Trường cấp 2 tôi học ở quả đồi đối diện, trường mang tên người anh hùng Cao Thắng, một hổ tướng của cụ Phan.

Khi hai quan phụ chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phế truất vua Dục Đức, ngoài Chưởng ấn Ngự sử Phan Đình Phùng lên tiếng phản đối, các quan đại thần dẫu bất bình nhưng không ai dám có ý kiến gì. Phan Đình Phùng liền bị Tôn Thất Thuyết tống giam, kết tội phản nghịch... chém đầu. Nhưng rồi ngẫm lại thấy Phan Đình Phùng là người cương trực, trung quân, trước sau chủ chiến với quân Pháp nên Tôn Thất Thuyết đã giảm  án, chỉ cách chức cho về quê. Tháng 7 năm đó, năm 1885, đánh úp quân Pháp không thành, kinh đô thất thủ, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi ra Sơn phòng (Quảng Trị) rồi xuống chiếu Cần Vương lần thứ nhất. Khi Ngự đoàn ra đến vùng rừng núi Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, vua xuống chiếu Cần Vương lần thứ hai. Phan Đình Phùng được giao chức vụ Thống đốc quân vụ đại thần, chỉ huy chống Pháp ở 4 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình. Lúc đầu cụ Phan đặt đại bản doanh kháng chiến ngay tại làng Đông Thái - quê hương cụ. Sau ngày có thêm trợ thủ Cao Thắng, giỏi chiến đấu và tổ chức rèn đúc vũ khí, cụ chuyển căn cứ lên vùng Thượng Bồng, vùng giáp ranh giữa 3 huyện Đức Thọ, Hương Sơn và Hương Khê (nay đều thuộc huyện Vũ Quang). Cuối cùng, để bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài, đại bản doanh được chuyển lên núi Vũ Quang. Sách giáo khoa và các giáo trình lịch sử viết “khởi nghĩa Hương Khê” là không chính xác. Mục đích của các cuộc khởi nghĩa nhằm lật đổ một vương triều nào đó. Gọi cuộc chiến đấu của cụ Phan Đình Phùng là cuộc khởi nghĩa sẽ hạ thấp ý nghĩa của phong trào  Cần Vương. Vũ Quang từng là tổng hành dinh của quân Cần Vương cho nên phải gọi đây là một đỉnh cao, một trung tâm của phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược hồi cuối thế kỷ XIX. Những bài học lịch sử về phong trào Cần Vương, về nghĩa quân Hương Khê, hồi đó tôi thuộc lòng và hiểu biết cặn kẽ, sâu sắc nhờ ở bên cạnh đồn Bộng, nhờ những ngày hè ngược dòng, vượt thác Ngàn Trươi chặt nứa, lấy gỗ kết bè đem về đủ dùng cho cả năm.

Sông Ngàn Trươi từ núi Vũ Quang chảy qua các xã Hương Quang, Hương Minh, Hương Điền, Hương Thọ, Hương Đại (gọi tắt theo cụm 5 xã là Quang  Minh Điền Thọ Đại) của huyện Hương Khê - cả 5 xã này nay đều thuộc huyện Vũ Quang - rồi đổ vào sông Ngàn Sâu ở Cửa Rào. Hai bên Ngàn Trươi là rừng rậm, núi cao, xóm thôn thưa thớt, lại có nhiều nhánh nhỏ như hói Trùng, hói Trí... ẩn khuất trong đại ngàn hiểm trở của dãy Trường Sơn. Quân Pháp đóng ở đồn Bộng; nghĩa quân Cần Vương đóng rải rác hai bên Ngàn Trươi, dọc hói Trùng, hói Trí, lên tận hói Đôi (ở gần chân núi Vũ Quang). Giữa năm 1894, sau khi Hoàng Cao Khải (người cùng quê) viết thư dụ hàng Phan Đình Phùng bất thành, quân Pháp dốc toàn lực tấn công căn cứ Ngàn Trươi - Vũ Quang. Dựa vào hói Trí cụ Phan cho quân chốt từ thác Cối Xay (xã Hương Đại) lên thác Lò Rèn (nơi Cao Thắng dựng lò đúc súng). Sau lưng hói Trí là động Dương (bản đồ Pháp ghi là động Dung), cụ Phan chỉ huy từ đại bản doanh. Lấy hói Trí làm trung tâm, cụ Phan dùng kế Sa nang úng thuỷ của Hàn Tín, cho quân và dân chặt gỗ lim, lột vỏ rồi ngâm  nước cho rêu bám  trơn, chắn ngang hói để ngăn nước tụ lại thành kè, đồng thời cho vót nhọn tre, nứa chất phía thượng nguồn. Ngày 26-10-1894, quân giặc từ bên kia sông Ngàn Trươi phối hợp với quân từ đồn Rạng Quang kéo lên, thấy hói Trí cạn khô liền theo dòng hói tiến lên đánh vào động Dương. Nghĩa quân phục sẵn hai bên bờ hói Trí, được lệnh liền phá kè. Nước đổ xuống ào ào như thác, kéo theo cọc gỗ, tre, nứa vót  nhọn như những mũi lao. 3 tên chỉ huy người Pháp chết tại trận, 100 lính cả tây và nguỵ chết ngập trong nước cuốn. Nghĩa quân thu nhiều vũ khí, quân trang. Sau trận thắng lớn, cụ Phan quan sát lại chiến trường, xúc động trước hồn thiêng đất nước đã làm bài thơ  "Cảm  tác khi thắng trận" :

                                    Núi rất cao mà nước rất trong                                   

Thần linh âu có giúp nên công

                                    Nếu không, nhiều ít chênh nhau thế

                                    Sao đến đầu khe đã hãi hùng

Đó chỉ là một trong những trận chiến đấu và chiến thắng của nghĩa quân Hương Khê mà tôi được biết qua lời kể của các bậc cao niên ở vùng Thượng Bồng và được kiểm chứng qua một số tư liệu lịch sử của nhà văn Thái Vũ khi ông tập hợp để viết tiểu thuyết lịch sử  “Thất thủ kinh đô - Huế 1885”.

Sông Ngàn Sâu mùa hè nước trong vắt. Nhà tôi giặt giũ, vo gạo nấu cơm, rửa rau, rửa chén bát đều dùng nước sông. Buổi sáng đánh răng rửa mặt cũng xuống sông. Bến sông lúc nào cũng vui nhộn, là nơi gặp gỡ của nhiều thế hệ. Nhiều sinh hoạt văn hoá, thể thao và sinh hoạt cộng đồng diễn ra sôi động trên sông. Nhà tôi ở cạnh chợ, cạnh bến đò ngang, cả ngày trên chợ dưới thuyền mua bán, giao lưu tấp nập. Mùa hè có ngày tôi tắm vài lần. Đi vo gạo tranh thủ tắm, đi gánh nước tranh thủ tắm, rửa chén bát tranh thủ tắm... Đi đâu xa vài ba ngày trở về việc đầu tiên là nhảy ùm xuống sông bơi lội cho thoả thích. Bạn bè ở xa đến chơi cũng rủ xuống sông tắm. Tôi xem con sông Ngàn Sâu như là một “đặc sản” của quê hương, xem con sông quê như bạn bè thân thiết. Vì thế, thuở đi học tôi rất thích bài thơ Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh với những câu: Tôi giang tay ôm nước vào lòng / Sông mở nước ôm tôi vào dạ... Có biết nước có giữ ngày giữ tháng / Giữ bao nhiêu âu yếm của đời tôi

 


Lần đầu tiên nghe ca sĩ Anh Thơ bay bổng, thánh thót Khúc hát sông quê của Lê Huy Mậu - Nguyễn Trọng Tạo, dù chưa “trở về úp mặt dòng sông quê” nhưng tôi vẫn nhận ra đó là sông La, sông Ngàn Sâu. Ôi con sông dạt dào như lòng mẹ / Một dòng trong xanh chảy mãi tới vô cùng... Tôi vẫn nhớ như in những lúc ngồi ngóng mẹ đi chợ về với niềm vui vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng. Mỗi bữa đi chợ về mẹ mua một chiếc bánh đa làm quà cho các con. Khi nhà tôi từ rú Trùa ra ở bến đò chợ Bộng là năm 1957, mới có 3 chị em. Năm 1963 mẹ sinh em út, nhà có 5 chị em. Tuổi thơ nghèo khó, dù 3 hoặc 4, rồi 5 chị em, thì mỗi bữa đi chợ về mẹ cũng chỉ có mỗi một chiếc bánh đa làm quà. Chiếc bánh đa hồi đó 5 xu (tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam in năm 1958, có ảnh Bác Hồ) bẻ chia 5 phần. Mỗi phần quà chỉ một xu nhưng không phải ai cũng mua nổi cho con cái mỗi ngày nên kỷ niệm cứ vời vợi không chỉ trong ký ức tuổi thơ mà theo suốt cả mỗi một cuộc đời phiêu bạt tha hương. Vì thế tôi đã nghe Anh Thơ hát Khúc hát sông quê với nhịp đập của một trái tim tha hương xứ Nghệ, ra đi từ con đò, bến nước sông La, Ngàn Phố, Ngàn Trươi...

Ngàn Trươi đổ vào Ngàn Sâu ở Cửa Rào, chảy qua 9 xã của huyện Đức Thọ: Liên-Hương-Lạng-Bồng-Lĩnh-Giang-Hoà-Ân-Sơn rồi hợp lưu với sông Ngàn Phố ở ngã ba Linh Cảm, tạo thành sông La. Ba con sông như ba dãi lụa đào uốn lượn quanh co. Ở đây, một vùng núi sông hùng vỹ, non nước thơ mộng, hữu tình... Thiên Nhẫn trùng trùng soi bóng bến Tam Soa. Đó là những dòng sông đã tắm mát tuổi thơ tôi, những dòng sông thi ca và anh hùng ca mãi mãi chảy vào cuộc đời, góp phần hình thành tính cách, un đúc chí khí và bản lĩnh của tôi.

Đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh. Dù ở đâu và xa cách bao lâu, Núi Hồng, Sông La, Ngàn Trươi, Ngàn Sâu, Ngàn Phố, đường Đồng Lộc, đường Khe Giao, đường Đèo Ngang, Hồng Lam, Linh Cảm... vẫn chảy mãi trong mỗi người Hà Tĩnh xa quê một tình yêu dịu ngọt. Hành trình của cuộc đời tôi đi từ thượng nguồn sông La đến sông Hương; từ căn cứ địa của phong trào Cần vương trở về  kinh thành Huế, cố đô di sản văn hoá thế giới.

Phạm Hữu Thanh Tùng 

Trích Chương 1, phần I,  Hồi ký “Từ sông La đến sông Hương”

                       
VIDEO