• lễ giỗ 6

  • lễ giỗ 5

  • lễ giỗ 4

  • lễ giỗ 3

  • lễ giỗ 2

  • lễ giỗ 1

  • Lễ giỗ 2016_1

  • 49 ngày Đai Tướng

  • giơithieuweb

  • 11

  • 10

  • 9

  • 8

  • 7

  • 6

  • 5

  • 2

  • 1

Tìm về cội nguồn
Kỷ vật của ông nội

Phạm Hữu Thanh Tùng

 

Quê hương mỗi người chỉ một...

Nhưng cũng có loại cá biệt như tôi.

Nhà thờ họ tộc tôi ở làng Quy Lai, nằm bên bờ sông Hương, ở quảng giữa ngã ba Sình và công trình thuỷ lợi Thảo Long – thuộc xã Phú Thanh, huyện Phú Vang. Ngài thuỷ tổ họ Phạm Hữu làng Quy Lai là Phạm Như Nghi. Ngài từ miền Bắc (có lẽ là từ Thanh Hoá) theo chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613) vào lập nghiệp ở Đàng Trong. Ngài lấy vợ họ Hoàng ở làng Hiền Sĩ, huyện Hương Trà. Có một thời Ngài về Quy Lai ở với con trai là Phạm Quý Công. Lăng mộ ngài thuỷ tổ và bà họ Hoàng hiện vẫn ở Hiền Sĩ. Ngài Phạm Quý Công là vị khai canh và khai khẩn làng Quy Lai. Ngài có miếu thờ và lăng mộ ở đầu làng, cạnh sông Hương.

Ông nội tôi là Phạm Hữu Chuẩn. Đời thứ 12 họ Phạm Hữu làng Quy Lai. Dân làng Quy Lai gọi ông tôi là cụ Hường. Sinh thời ông được triều đình phong tước Hồng lô Tự khanh, hàm Tứ phẩm, làng Quy Lai tôn vinh ông làm tiên chỉ.

Đầu thế kỷ XX  ông tôi vào Đà Nẵng làm việc, lấy vợ ở làng Thọ An, phường Thọ Quang. Quê bà nội tôi gần cảng Tiên Sa, dưới chân đỉnh Sơn Trà, nhìn ra biển. Bây giờ ở ngay bên cạnh tuyến đường du lịch Sơn Trà - Hội An, ôm vòng cung biển Mỹ Khê. Từ thời Đồng Khánh, Đà Nẵng là nhượng địa của Pháp. Ông tôi từ quan chức Nam triều sang làm việc cho chính quyền bảo hộ, hưởng lương theo ngạch công chức của chính phủ Pháp, không có bổng lộc triều đình. Ông tôi phụ trách Hải quan. Đà Nẵng là cảng biển duy nhất của miền Trung nhưng hồi đó không có chuyện ăn hối lộ khi kiểm hoá, làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng như thời nay nên một ông quan hàm Tứ phẩm, tạm phái của triều đình làm việc với chính quyền Pháp nhưng lương tiền chỉ vừa đủ nuôi vợ con với cuộc sống “thường thường bậc trung”. Ngày nay, quan chức phụ trách Hải quan một thành phố có cảng biển quốc tế như Đà Nẵng, Hải Phòng không chỉ có xe hơi xịn, vài ba ngôi biệt thự, con cái đi du học đề huề mà cả họ vô được biên chế nhà nước.

Sau khi bà nội tôi mất, vì bệnh thương hàn, ông tôi trở ra Huế làm việc ở Tam Toà – trong Thành Nội. Từ đó, ông tôi  mua đất cất nhà ở phố Gia Hội. Ngôi nhà ở làng Quy Lai từ thời ông cụ cao, cụ cố chúng tôi cho đến bây giờ vẫn được sử dụng làm nhà thờ của Phạm Hữu đệ tam phái, chi 2. Khi gia đình tôi từ miền Bắc hồi hương (1975) trong nhà thờ chỉ còn lại ba kỷ vật có giá trị. Một bức hoành phi sơn son thếp vàng treo ở căn giữa, chỉ chạm khắc mỗi một chữ ĐỨC (về sau do hư hỏng, đã được thay thế bằng bức khác). Hai cặp liễn đối treo ở hai hàng cột chính trước án thờ.

Cặp thứ nhất, treo ở hàng cột phía trong:  

 

国 計  攸  開, 有 功, 必 能 有 懋 賞

皇 恩  優  渥, 顯 其 身, 正 以 顯 其 親

                                                           

Phiên âm:

Quốc kế du khai hữu mậu công tất năng hữu mậu thưởng

Hoàng ân ưu ác hiển kỳ thân chánh dĩ hiển kỳ thân

 

Nghĩa là:

Có công mở ra quốc kế dân sinh tốt đẹp, lâu dài thì tất có sự trọng thưởng xứng đáng.

Thấm nhuần ân huệ của nhà vua làm hiển hách cho bản thân, cũng chính là làm hiển hách cho cho gia đình, dòng họ.

(Thanh Tùng tạm dịch)

Việc nước mở mang, cần mẫn công lao, tuyên dương thành tích

Ân vua nhuần thấm, thành đạt bản thân, vinh hiển tông đường

(Phạm Thúc Hồng dịch)

 

Theo hai dòng lạc khoản ở hai bên thì cặp liễn do Cấm vệ binh chánh đội Lê Văn Lữ và Thị giảng học sĩ Phạm Quang Thiện đồng trang hạ Bảo Đại thập nhị niên quí xuân (mùa xuân năm 1937). Hai ông này có lẽ là bạn đồng triều, một ông quan võ và một ông quan văn, tặng ông nội tôi lúc được phong tước Hồng lô Tự khanh.

Cặp thứ hai, treo ở hàng cột phía trước, cũng được tặng vào thời điểm này. Dòng lạc khoản ghi là: Bổn xã đồng thư (Hội đồng hương xã) dâng tặng mùa xuân năm Đinh Sửu (1937) với nội dung ca ngợi công đức, vinh hoa của ông, và niềm tự hào, hạnh phúc của cả dòng họ, làng xã:

 

天 府 國 籌, 謹 慎 清 勤, 蒙 帝 揀

親 封 子 蔭, 榮 葩 富 貴,

 

Phiên âm:

Thiên phủ quốc trù cẩn thận thanh cần mông đế giản

Thân phong tử ấm vinh hoa phú quí huống hương khôi

 

Nghĩa là:

Ở đất kinh đô có công trù tính việc nước, tính tình cẩn thận, cuộc sống cần cù thanh bạch, được vua ban khen.

Cha mẹ được phong tặng, con cái được tập ấm, cả gia đình đều vinh hoa phú quí, làng xã cũng thơm lây.

(Thanh Tùng tạm dịch)

 

Chốn kinh đô nợ nước lo toan, trong sạch chuyên cần, vua thêm trọng dụng

Nơi gia đình việc nhà no ấm, giàu sang vinh hiển, làng vốn mến yêu

(Phạm Thúc Hồng dịch)

 

Căn cứ  vào nội dung của hai cặp liễn đối này thì ông nội tôi được triều đình phong tước Hồng lô Tự khanh vào đầu năm 1937, trước khi về nghỉ hưu vài năm.

 

Năm 2008, khi trùng tu lại ngôi từ đường tôi, do bức hoành phi đã bị mất tôi làm mới ba bức treo ở ba gian. Nội dung các bức hoành phi phù hợp với tính cách và nếp sống của ông nội tôi. Bức gian giữa: Thiện tục phước môn; gian tả Thanh Bạch truyền gia, gian hữu: Hối nhân bất quyện. Đồng thời tôi làm lại ba án thờ bằng gỗ hương, phía sau án ở gian giữa tôi làm khám thờ linh vị các cụ cao tổ. Chạy dọc hai trụ khám thờ tôi cho khắc cặp câu đối:

Hậu đức thâm nhân hà nhĩ mộ

Tiền cơ lưu phước hiển thọ nhân

Với ý nghĩa là: Ngày trước ông bà để lại nhiều ơn đức và tấm lòng nhân nghĩa sâu dày khiến cho người người, từ trong làng đến ngoài xã đều mến mộ.

Không để lại tiền bạc, của cải, mà quan tâm xây dựng nền móng cơ bản về luân thường, đạo lý, nghề nghiệp, giữ sự trong sạch làm phúc truyền đời cho con cháu nên người, thành đạt, đem lại vinh hiển cho gia đình và dòng họ -như là một sự báo hiếu.

Ông nội tôi còn là người sáng lập chùa làng Quy Lai. Ngôi nhà Tổ của chùa do ông tôi phát nguyện cúng dường ngày trước nay vẫn còn. Đó là một bộ nhà rường tuyệt đẹp, mái lợp ngói âm dương. Trong khi nhà thờ gia tộc kết cấu hết sức đơn giản; chỉ có 4 cột gỗ, cặp băng kèo, hệ thống xuyên thượng, đòn tay hai gian tả hữu gác tường xây gạch vồ. Nhà dưới còn đơn giản hơn, băng kèo đòn tay đều gác tường và trụ gạch, không có cột gỗ. Sinh thời ông tôi bảo: Nhà là của riêng, chùa là của chung cả làng nên phải đẹp hơn, tốt hơn nhà riêng của mình.

(còn nữa)

Phạm Hữu Thanh Tùng 

Trích Chương 1, phần I,  Hồi ký “Từ sông La đến sông Hương” 
VIDEO