• lễ giỗ 6

  • lễ giỗ 5

  • lễ giỗ 4

  • lễ giỗ 3

  • lễ giỗ 2

  • lễ giỗ 1

  • Lễ giỗ 2016_1

  • 49 ngày Đai Tướng

  • giơithieuweb

  • 11

  • 10

  • 9

  • 8

  • 7

  • 6

  • 5

  • 2

  • 1

Tìm về cội nguồn
TƯỚNG QUÂN PHẠM BẠCH HỔ
 Phạm Bạch Hổ (范白虎; 910-972) còn có tên tự xưng là Phạm Phòng Át (范防過, có sách viết là Phạm Phòng Ất, hay Phạm Phùng Át, có gia phả ghi là Phạm Hồng Ất,. Ông là vị khai quốc công thần của hai triều đại: Nhà Ngô (939-965) và Nhà Đinh (968-980).
Ông sinh ngày 10 tháng Giêng năm Canh Ngọ (910) tại vùng sông nước Đằng Châu, liền kề với phố Hiến, trước thuộc huyện Kim Động (nay thuộc phường Lam Sơn, Thành phố Hư¬ng Yên), tỉnh Hư¬ng Yên.
Thân phụ của ông là Phạm Lệnh Công (Lệnh Công họ Phạm, tên huý là Phạm Chiêm, hay Phạm Thiên) – hào trưởng rất uy tín vùng Trà Hư¬ơng, lộ Nam Sách Giang (nay thuộc huyện Nam Sách, tỉnh Hải D¬ương), người có nhiều công lao với đât nước. Hiện có đền thờ Ngài ở làng Thụy Trà, xã Nam Trung. Đền thờ đã được xếp hạng Di tích Lịch sử-Văn hóa. Ngài còn có cơ nghiệp buôn bán ở Bến Lảnh, Đằng Châu.  Phạm Lệnh Công nên duyên cùng bà Đào Thị Hồng, người làng Xích Đằng (nay thuộc huyện Kim Động, Hưng Yên). Tương truyền bà Hồng nằm mộng thấy Sơn Tinh và Hổ trắng mà có mang nên đặt tên con trai là Bạch Hổ. Lớn lên Bạch Hổ có thân hình vạm vỡ, mạnh mẽ như hổ, thông minh hơn người, văn võ song toàn.
Ngay từ nhỏ, Phạm Bạch Hổ đã nổi tiếng hiếu học, tư chất thông minh, tính tình nóng nảy và cương trực. Bach Hổ lớn lên vào thời Dương Đình Nghệ (bố vợ Ngô Quyền) đánh đuổi quân Nam Hán. Năm 18 tuổi (927), Phạm Bạch Hổ đã là hào tr¬ưởng vùng Đằng Châu.
Năm Tân Mão - 931, ông giúp Dương Đình Nghệ đánh đuổi Lý Tiến, thứ sử Giao Châu của nước Nam Hán; sau đó đánh bại Trần Bảo do Lưu Nghiễm cử sang cứu viện. Dương Đình Nghệ xưng tiết độ sứ, dùng ông làm Nha tướng.  
Năm 937 ông đem 1.000 quân đến hợp binh với Ngô Quyền ở Gia Viễn, thuộc Ái Châu, là danh tướng của Ngô Quyền. Năm 938, Kiều Công Tiễn (bộ tướng của Dương Đình Nghệ) làm phản, giết chủ tướng để tiếm ngôi, bị nhân dân phản đối, hoảng sợ, đã đi cầu cứu quân Nam Hán. Để rảnh tay chuẩn bị đối phó với quân xâm lư¬ợc Nam Hán, ông được Ngô Quyền phong làm tướng Tiên phong, đem năm ngàn quân vượt đèo Ba Dội (Tam Điệp, Ninh Binh) tiến về Đại La trừ khử tên phản phúc đó. Rồi ông đư¬ợc Ngô Quyền phong là Trư¬ởng T¬ướng Quân, cùng nhiều t¬ướng sĩ giúp Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Đây là trận Bạch Đằng Giang đầu tiên trong lịch sử nư¬ớc nhà. Chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng đã mở ra một kỷ nguyên độc lập cho nước ta.  Ngô Vương phong ông làm Châu Mục Đằng Châu (vùng Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động, Tiên Lữ, TP Hư¬ng Yên ngày nay). Rồi phong ông chức Phòng Át tướng công, trấn giữ toàn cõi Hải Đông (khu vực nam Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh ngày nay).   
Năm 944, khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha cướp ngôi vua của cháu là Ngô Xương Ngập (con trai cả của Ngô Quyền), đồng thời truy sát Ngô Xương Ngập. Vùng núi Hun Sơn của cha ông (Lệnh Công Phạm Chiêm) là nơi che chở cho Ngô Xương Ngập trốn thoát khỏi 3 lần truy lùng của Dương Tam Kha. Ông đã gả con gái là Phạm Thị Ngọc Dung cho Ngô Xư¬ơng Ngập. Sau khi Dương Tam Kha bị lật đổ, ông phò giúp cho sự nghiệp của Ngô Xương Văn, tức Nam Tấn Vương – Hậu Ngô Vương.
Năm 965, khi Hậu Ngô Vương mất, các hào kiệt cả nước cùng nổi lên cát cứ, Phạm Bạch Hổ đã trấn giữ vùng cửa biển sông Hồng, cửa ngõ quan trọng vào thành Đại La, cai quản một vùng đất đai rộng lớn, giúp nhân dân khai khẩn đất hoang, đất bồi để sản xuất nông nghiệp. Phạm Bạch Hổ là thủ lĩnh 1 trong 12 xứ quân cát cứ vùng Đằng Châu lúc bấy giờ. Những dấu tích ở Côn Sơn, Đông Triều cho thấy khu vực chiếm đóng của Phạm Bạch Hổ còn lan ra cả vùng đông bắc, tức khu vực  Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng ngày nay và khu vực núi Hun Sơn nơi mà Phạm Lệnh Công cha ông từng giấu Ngô Xương Ngập cũng là một căn cứ quân sự của ông.
Lúc Đinh Bộ Lĩnh phất cờ tụ nghĩa, dẹp loạn 12 Sứ quân, đầu năm 966 ông là Sứ quân đầu tiên quy thuận và hợp tác với Đinh Bộ Lĩnh. Ông lại đ¬ược Đinh Bộ Lĩnh phong làm Thân Vệ Đại T¬ướng Quân và có công đầu trong việc giúp Bộ Lĩnh, chỉ trong một năm (967), dẹp được loạn Sứ quân, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt với Triều Đinh (968-980), ông trở thành tướng của nhà Đinh.
Ông mất ngày 16 tháng 11 năm Nhâm Thân (tức  24-12-972) tại Động Thuỷ Chạ – quân doanh của ông ở Ngọc Đư¬ờng (nay là xã Hùng Cường, Kim Động, H¬ưng Yên), thọ 62 tuổi.  Đinh Tiên Hoàng đã sắc cho nhân dân lập đền thờ, các triều đại đều phong tặng ông là: “Khai thiên hộ quốc tối linh thần”.  (Một số nguồn tin khác cho biết ông còn sống đến tận khi Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế thay nhà Đinh, tức năm 983, thọ 73 tuổi). Tương truyền:  Vào ngày Rằm tháng 11, có một đám mây vàng sà xuống dinh Bạch Hổ. Ông theo mây vàng mà bay đi. Dân Ðằng Châu nhớ ơn công đức, tôn ông là Vua Mây và xây miếu thờ ông gọi là Ðền Mây. Ở làng Ngọc Ðồng, huyện Kim Ðộng xây lăng thờ ông, vì thế trong dân gian có câu: “Miếu làng Ðằng, lăng làng Ðồng”.
Phạm Bạch Hổ được nhân dân nhiều nơi như: Hưng Yên, Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Thái Bình… tôn thờ. Hầu hết các nơi thờ này thuộc khu vực đạo Hải Đông xưa, vốn gắn bó nhiều với cuộc đời và sự nghiệp của ông.
 
                                                                                         Đền Mây
 
Hậu tẩm Đền Mây có 3 pho tượng thờ: Phạm Bạch Hổ (bên phải),
Phu nhân (bên trái) và Thánh mẫu (ở giữa)
Có thể coi đền chính thờ Phạm Phòng Át là di tích Đền Mây thuộc thôn Đằng Châu, phường Lam Sơn, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Nhắc đến Hưng Yên, không thể không kể đến Đền Mây, bởi từ lâu ngôi đền này đã nổi tiếng với câu ca: “Trăm cảnh nghìn cảnh, không bằng bến Lảnh, đò Mây“. Đền Mây được xây dựng vào thời Đinh – Tiền Lê và được trùng tu vào thời Nguyễn. Đền Mây là ngôi đền có nhiều giá trị văn hóa đặc sắc còn lưu giữ đến tận ngày nay với 27 pho tượng cổ mang phong cách thời Hậu Lê. Hàng năm, lễ hội Đền Mây được tổ chức ở hai thời điểm: Tháng Giêng từ ngày mồng 8 đến ngày 16 (âm lịch) là lễ hội kỷ niệm ngày sinh; từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 11 (âm lịch) là lễ hội kỷ niệm ngày mất của tướng quân Phạm Bạch Hổ.
Trong lễ hội ngoài phần tế lễ đặc sắc, thì phần hội có nhiều trò chơi truyền thống mang đậm nét văn hoá của cư dân Bắc Bộ như: đấu vật, múa lân, hát trống quân, múa rối nước, đánh cờ. Đền Mây  đã được Bộ Văn hoá Thôông tin công nhận là di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật từ năm 1992.
Ngoài ra, còn có đền Vua Mây thuộc thôn Đại Đê, xã Đại An, Vụ Bản, Nam Định, thờ danh tướng Phạm Bạch Hổ. Ông cũng được thờ ở đình, chùa các làng thuộc xã Đại Thắng, Vụ Bản.  Ông được tôn thờ là Thành hoàng làng Phương Mạc – Phương Đình, Đan Phượng; và đình Thanh Mạc, xã Thanh Đa, Phúc Thọ, Hà Nội; được thờ ở làng Đông Hải, xã Đông Vinh, Đông Hưng, Thái Bình.
Ở thành phố Hưng Yên, có một con đường trục chính mang tên đường Phạm Bạch Hổ.
Phạm Thúy Lan (tổng hợp)
VIDEO